Giới thiệu về công ước chống tra tấn và pháp luật Việt Nam về phòng, chống tra tấn

16/06/2020

Thực hiện Văn bản số 627/ UBND-NC ngày 2/4/2018 của UBND tỉnh Gia Lai về việc triển khai thực hiện Quyết định số 65/QĐ-TTG ngày 12/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ; Văn bản số 341/STP-PBGDPL ngày 11/3/2020 của Sở Tư pháp về việc thực hiện Đề án Tuyên truyền phổ biến trong CB, CC, VC, người lao động và nhân dân về nội dung Công ước chống tra tấn và pháp luật Việt Nam về phòng, chống tra tấn. Sở Công Thương giới thiệu một số nội dung Công ước chống tra tấn và pháp luật Việt Nam về phòng, chống tra tấn, như sau:



I. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÔNG ƯỚC CHỐNG TRA TẤN

1. Lịch sử ra đời và vị trí, vai trò của Công ước Chống tra tấn
1.1. Lịch sử ra đời
Ngày 9/12/1975, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn về bảo vệ tất cả mọi người khỏi tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục (Nghị quyết 3452(XXX)). Tuyên ngôn này được coi là điểm khởi đầu cho các nỗ lực về chống tra tấn của cộng đồng quốc tế. Cùng với Tuyên ngôn ngày, Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng thông qua Nghị quyết 3453(XXX) đề nghị Hội đồng Nhân quyền thực hiện các nghiên cứu cũng như các bước cần thiết để đảm bảo thực hiện Tuyên ngôn về chống tra tấn được hiệu quả. Hai năm sau (năm 1977), Đại hội đồng Liên hợp quốc chính thức yêu cầu Hội đồng Nhân quyền xây dựng một bản dự thảo Công ước về chống tra tấn dựa trên các nguyên tắc đã được ghi nhận tại Tuyên ngôn về chống tra tấn.
Công ước Chống tra tấn có tên đầy đủ là Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (viết tắt là Công ước CAT) và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1984 bằng Nghị quyết 39/46. Công ước có hiệu lực từ ngày 26/6/1987 sau khi được 20 quốc gia phê chuẩn gia nhập.
1.2. Vị trí, vai trò của Công ước Chống tra tấn
Công ước Chống tra tấn là một trong 07 Công ước cốt lõi về nhân quyền của Liên hợp quốc. Đến hết tháng 5/2019, Công ước đã có 166 quốc gia thành viên (quốc gia gia nhập gần đây nhất là Samoa - gia nhập vào tháng 3/2019), 06 quốc gia đã ký nhưng chưa thực hiện phê chuẩn Công ước và 25 quốc gia chưa tham gia bất kỳ hoạt động nào liên quan đến Công ước.
Trong khu vực ASEAN, hiện có 06/10 quốc gia là thành viên Công ước Chống tra tấn; 01 quốc gia thực hiện ký nhưng chưa phê chuẩn (Campuchia) và 03 quốc gia chưa tham gia (Singapore, Malaysia và Indonesia).
2. Một số nội dung chính của Công ước Chống tra tấn
Công ước Chống tra tấn bao gồm 33 điều và được chia thành 03 Phần chính (không kể Lời nói đầu), cụ thể là:
Phần 1: Khái niệm ”tra tấn” và các nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước (Điều 1 đến Điều 16);
Phần 2: Cơ chế giám sát quá trình thực hiện Công ước Chống tra tấn (Điều 17 đến Điều 24);
Phần 3: Hiệu lực, rút khỏi; giải quyết tranh chấp; bảo lưu và sửa đổi, bổ sung Công ước Chống tra tấn (Điều 25 đến Điều 33)
2.1. Khái niệm ”tra tấn”
Điều 1 Công ước Chống tra tấn quy định:
“…Thuật ngữ ”tra tấn” có nghĩa là bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, vì những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba
thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện, hoặc để đe doạ hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi đau đớn và đau khổ đó do một công chức hay người nào khác hành động với tư cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức…..”
Trên cơ sở định nghĩa nói trên, có thể thấy rằng hành vi được coi là ”tra tấn” theo Công ước có dấu hiệu nhận biết như sau:
(1) Hành vi: gây đau đớn, đau khổ nghiêm trọng về thể xác hoặc tinh thần.
(2) Lỗi: Cố ý
(3) Chủ thể thực hiện hành vi: cán bộ, công chức nhà nước hoặc cá nhân được trao quyền thi hành công vụ; cá nhân thực hiện hành vi trên cơ sở sự cho phép, chấp thuận, đồng tình của cán bộ, công chức nhà nước. Tại Bình luận chung số 20 của Ủy ban Nhân quyền, Ủy ban Nhân quyền cho rằng, hành vi có tính chất tra tấn bị cấm không phụ thuộc vào việc hành vi đó có được thực hiện khi cán bộ nhà nước thi hành công vụ hay không.
(4) Mục đích:
+ Thu thập thông tin; lời thú tội từ nạn nhân hoặc từ người thứ ba có quan hệ với nạn nhân;
+ Trừng phạt;
+ Đe dọa, cưỡng ép nạn nhân hoặc người thứ ba có quan hệ với nạn nhân phải thực hiện hành vi trái ý muốn của họ;
+ Phân biệt đối xử.
2.2. Nghĩa vụ của các quốc gia thành viên
Công ước Chống tra tấn đặt ra nhiều nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên của Công ước. Các nghĩa vụ này có thể được chia thành các nhóm sau đây:
a) Nghĩa vụ nghiêm cấm hành vi tra tấn
Theo Điều 2 Công ước Chống tra tấn, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ áp dụng các biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp và các biện pháp để nghiêm cấm hành vi tra tấn. Trong đó:
(1) Biện pháp lập pháp: ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật nhằm nghiêm cấm hành vi tra tấn.
Trong khuôn khổ nghĩa vụ này, Điều 4 Công ước Chống tra tấn quy định rõ, các quốc gia thành viên Công ước có nghĩa vụ hình sự hóa hành vi tra tấn. Theo đó, mọi hành vi thỏa mãn các điều kiện được nêu định nghĩa tại Điều 1 Công ước Chống tra tấn và các hành vi chuẩn bị tra tấn, hành vi đồng lõa hoặc tham gia tra tấn đều phải được coi là tội phạm theo pháp luật hình sự của quốc gia. Đi cùng với quy định về tội phạm tra tấn, các quốc gia phải có quy định về hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm này.
(2) Biện pháp hành pháp: các biện pháp để tổ chức thi hành các quy định pháp luật về cấm tra tấn.
(3) Biện pháp tư pháp: các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử người thực hiện hành vi tra tấn.
Một trong các biện pháp tư pháp mà quốc gia thành viên được yêu cầu thực hiện là thiết lập quyền điều tra, truy tố, xét xử rộng nhất đối với các hành vi tra tấn (Điều 5).
(4) Biện pháp khác: các biện pháp nhằm hỗ trợ, nâng cao hiệu quả của các quy định cấm tra tấn, chẳng hạn như tuyên truyền, phổ biến pháp luật; đào tạo cán bộ….
Ngoài ra, Điều 3 Công ước Chống tra tấn quy định nguyên tắc “không trục xuất, trả về, dẫn độ”. Theo đó, các quốc gia thành viên không được trục xuất, trả về hoặc dẫn độ những cá nhân tới quốc gia mà có căn cứ xác đáng để cho rằng ở quốc gia đó những cá nhân này có thể bị tra tấn. Quy định này cũng đồng thời tạo ra nghĩa vụ cho quốc gia thành viên phải hoàn thiện pháp luật quốc gia để đảm bảo trình tự, thủ tục xem xét, thực hiện trục xuất, trả về, dẫn độ có tính đến các nguy cơ tra tấn ở nước đến.
b) Nghĩa vụ trừng phạt hành vi tra tấn
Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 6 và Điều 8 Công ước, các quốc gia thành viên Công ước khi phát hiện hành vi tra tấn phải thực hiện điều tra, truy tố, xét xử; trong trường hợp không thể thực hiện điều tra, truy tố, xét xử, quốc gia phải thực hiện dẫn độ người bị nghi ngờ thực hiện hành vi tra tấn tới quốc gia có khả năng thực hiện việc truy tố, xét xử.
Bên cạnh đó, các quốc gia thành viên Công ước cũng có nghĩa vụ thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự để hỗ trợ việc điều tra, truy tố hoặc dẫn độ (Điều 9).
c) Nghĩa vụ ngăn ngừa hành vi tra tấn
Để có thể ngăn ngừa các hành vi tra tấn, Công ước Chống tra tấn quy định các quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp giáo dục và tuyên truyền về cấm tra tấn.
2.3. Cơ chế giám sát việc thực hiện Công ước Chống tra tấn
Để giám sát việc thực hiện Công ước Chống tra tấn của các quốc gia thành viên, Công ước thiết lập ra Ủy ban Chống tra tấn và cơ chế báo cáo tình hình thực thi Công ước.
a) Ủy ban Chống tra tấn
Ủy ban Chống tra tấn được
thành lập theo Điều 17 Công ước Chống tra tấn. Ủy ban gồm 10 chuyên gia độc lập, có đạo đức và năng lực chuyên môn cao, được công nhận trong lĩnh vực quyền con người; được bầu bởi các quốc gia thành viên Công ước Chống tra tấn. Các thành viên của Ủy ban làm việc theo nhiệm kỳ 4 năm và có thể được bầu lại. Sau mỗi 2 năm, 50% số thành viên của Ủy ban sẽ được bầu lại.
Ủy ban Chống tra tấn có 04 chức năng chính sau đây:
(1) Xem xét các báo cáo về tình hình thực hiện Công ước Chống tra tấn của các quốc gia thành viên;
(2) Nghiên cứu, xây dựng các Bình luận chung giải thích về các quy định của Công ước Chống tra tấn;
(3) Xem xét các thông tin của một quốc gia báo cáo về tình hình không thực hiện Công ước của một quốc gia khác; hoặc khiếu kiện của cá nhân về tra tấn (chức năng này chỉ phát sinh khi quốc gia thành viên Công ước chấp nhận thẩm quyền Ủy ban theo Điều 21 và Điều 22 Công ước hoặc thông qua việc gia nhập Nghị định thư tùy chọn của Công ước Chống tra tấn).
(4) Điều tra tình trạng tra tấn diễn ra có hệ thống, trên diện rộng tại một quốc gia thành viên.
b)Cơ chế báo cáo định kỳ vềtình hình thực hiện Công ước
Theo Điều 19 Công ước Chống tra tấn, các quốc gia phải nộp Báo cáo định kỳ về tình hình triển khai thực hiện Công ước cho Ủy ban Chống tra tấn. Báo cáo lần đầu sẽ được nộp sau 1 năm kể từ ngày Công ước có hiệu lực đối với quốc gia thành viên và các báo cáo sau đó sẽ được nộp định kỳ sau mỗi 04 năm.
Sau khi nhận được báo cáo của quốc gia thành viên, Ủy ban Chống tra tấn phải thực hiện một phiên đối thoại trực tiếp với quốc gia đã nộp báo cáo để trao đổi về nội dung của báo cáo. Trên cơ sở kết quả xem xét báo cáo và phiên đối thoại trực tiếp với quốc gia thành viên, Ủy ban Chống tra tấn sẽ đưa ra các khuyến nghị để quốc gia thành viên nghiên cứu thực hiện. Kết quả thực hiện các khuyến nghị này sẽ được quốc gia báo cáo lại Ủy ban theo thời hạn mà Ủy ban ấn định hoặc được lồng ghép vào báo cáo định kỳ tiếp theo.
2.4. Hiệu lực, rút khỏi; giải quyết tranh chấp và sửa đổi, bổ sung Công ước
a)Hiệu lực và rút khỏi Công ước
Theo Điều 27 Công ước, Công ước sẽ có hiệu lực sau 30 ngày kể từ khi khi có đủ 20 quốc gia thành viên gia nhập. Đối với các quốc gia gia nhập sau thời điểm Công ước có hiệu lực, Công ước có hiệu lực đối với quốc gia đó sau 30 ngày kể từ khi quốc gia gửi văn kiện phê chuẩn Công ước tới Liên hợp quốc.
Các quốc gia có thể rút khỏi Công ước này bất kỳ lúc nào bằng hình thức gửi văn bản đến Tổng thư ký Liên hợp quốc. Hiệu lực của Công ước sẽ chấm dứt với quốc gia gửi văn kiện sau 01 năm kể từ ngày Tổng thư ký nhận được văn kiện thông báo.
b)Giải quyết tranh chấp
Theo Điều 30 Công ước, các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên trong việc giải thích hoặc áp dụng Công ước sẽ được giải quyết thông qua thương lượng. Trong trường hợp không thể giải quyết bằng thương lượng, một trong các bên tranh chấp `có thể yêu cầu giải quyết bằng trọng tài. Nếu các bên tranh chấp không thể thống nhất về cách tổ chức trọng tài thì tranh chấp có thể được chuyển đến Tòa án Công lý quốc tế để giải quyết. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp bằng Tòa án Công lý quốc tế không mang tính bắt buộc, các quốc gia có thể lựa chọn không bị ràng buộc bởi cách thức giải quyết này theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Công ước.
c)Bảo lưu
Theo Điều 28 và khoản 2 Điều 30 Công ước, các quốc gia được phép bảo lưu đối với Điều 20 và khoản 1 Điều 30 Công ước Chống tra tấn.
d)Sửa đổi, bổ sung Công ước
Nội dung của Công ước có thể được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở ý kiến của các quốc gia thành viên Công ước theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 29 Công ước…. (còn tiếp…)

Thanh tra Sở


tin khác

|< < 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10... > >|